Liên kết web

Đối tác

Thống kê truy cập

Đang Online: 15233

Trong tuần: 73531

Trong tháng: 539525

Tổng: 5426410

Giới thiệu - Tổng quan

Thứ Hai (15/11/2010 | 07:00 GMT + 7)

Xây dựng Thủ Thiêm như một điểm nhấn của truyền thống lịch sử- Văn hóa TPHCM

Lối sống sông nước
Trong cuộc sống hàng ngày thì người dân giao tiếp với nhau một cách cởi mở và thân thiện. Không gian mở dọc bờ sông cũng thường là nơi mọi người gặp gỡ. Dọc đường bờ sông là nơi kiếm kế sinh nhai của nhiều người dân Thủ Thiêm, những quán nhỏ cũng được bày ra dọc theo con đường này và đó cũng là nơi giao lưu, trò chuyện, nghỉ ngơi, đánh cờ của bà con tầng lớp bình dân những lúc nhàn rỗi.
 
Phong tục, tập quán của cư dân Thủ Thiêm cũng chịu sự kiêng cữ chung của cư dân sông nước, họ rất cấm kị để những vật dụng dùng cho sinh hoạt, cũng như trong sản xuất như dao, kéo, búa, chài, lưới …, bị rơi xuống nước. Trong giao tiếp, họ tránh nói những từ ngữ không tốt, mang tính chất hoạn nạn như chìm ghe, chìm thuyền, mưa gió, bão táp, lũ lụt …., không được trù dập, chửi mắng hay lớn tiếng trên sông nước. Tất cả đều trở thành tập tục mà mỗi cư dân sông nước phải tuân thủ.

Lối sống sông nước thể hiện rõ trong phương tiện di chuyển của người dân Thủ Thiêm. Khi giao thông đường bộ chưa phát triển thì phương tiện giao thông chủ yếu ở Thủ Thiêm là theo đường thủy. Những nguyên vật liệu sẵn có trong tự nhiên là điều kiện thuận lợi để họ có thể tự đóng lấy một chiếc ghe nho nhỏ để đi lại. Thêm nữa nhà của cư dân thường được cất dọc hai bên con kênh, rạch, xẻo, nên mỗi nhà đều sắm một, hai chiếc ghe hoặc xuồng để có thể xuôi ngược dòng theo kênh, rạch, sông, để đi chợ, đi sang quận 4, quận 7… và từ đó họ có thể dùng phương tiện khác lớn hơn để đi tiếp hoặc dùng phương tiện giao thông đường bộ. Tùy theo kinh tế gia đình mà họ sắm ghe hay tự đóng lấy. Ghe phân biệt với xuồng chủ yếu là ở kích thước và các bộ phận khác như có máy đuôi tôm và khả năng di chuyển nhanh hơn, có thể chở được khối lượng nhiều hơn xuồng. Xuồng thường thì đi được vài người và mình tự chèo lấy không nhờ đến máy đuôi tôm.

Ngày nay, khi đường bộ ở Thủ Thiêm được nhựa hóa và những con đường đã vào tận thôn ấp, giao thông đường bộ ngày càng hoàn thiện đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân, nên người dân nơi đây đã bớt dần thói quen xuống rạch đi ghe, xuồng, phương tiện di chuyển bằng đường thủy.
 
Ẩm thực của người dân Thủ Thiêm thể hiện rất rõ sự gắn bó với đời sống sông nước. Họ có những món ăn của đồng ruộng, sông rạch như chuột đồng, cá tươi, tôm cua, ếch, rắn,... Đó thường là những thức ăn do họ tự tay kiếm được trong thiên nhiên, trên kênh rạch sau những buổi đi hái, đi câu, đi lưới, đi lộp, đi đâm chuột, đi soi ếch, đi bắt cua. Món cá hấp mỡ hành cuộn rau sống bánh tráng, món chuột đồng nướng, cá lóc nướng trui, ếch xào lăn, canh cua đồng, rắn xào nghệ… là những thức ăn mà người dân ở đây vẫn còn có dịp thưởng thức trong gia đình, không tốn tiền phải mua mà chỉ mất công đi tìm kiếm. Những thức ăn ấy không những cải thiện được bữa ăn mà còn đỡ đần chi phí cho gia đình.

Riêng về cách kiếm sống, thì lĩnh vực này thể hiện rõ lối sống sông nước của Thủ Thiêm. Cũng giống như mọi địa phương khác của đất nước, nghề nghiệp của cư dân Thủ Thiêm rất đa dạng, hòa mình trong guồng máy lao động của cả nước, tuy nhiên tại Thủ Thiêm có một số nghề rất đặc trưng, phản ánh cuộc sống nông nghiệp, gắn liền với môi trường sông nước.

Sông nước đã giúp cho họ kiếm sống. Sinh hoạt với sông nước, cư dân Thủ Thiêm có cuộc sống dựa vào sông nước rất đặc trưng của văn hóa Nam Bộ. Bên cạnh nghề làm ruộng, là những nghề đánh bắt thủy sản như cá, tôm, cua, rắn, chuột, nghề chèo thuyền đưa đò, nghề lặn, nghề đóng và sửa chữa ghe thuyền...

Thủ Thiêm là một vùng đất phù sa mới ven sông Sài Gòn với địa hình bằng phẳng, cạnh vùng phù sa cổ với địa hình hơi cao từ Giồng Ông Tố nối liền với khu vực Thủ Đức. Trên vùng đất thấp, phẳng này, hoạt động sản xuất chính của cư dân Thủ Thiêm từ xưa là canh tác lúa nước.
Vào đầu thế kỷ XX, một nhà thơ đã mô tả cảnh nông thôn ở khu vực hai bên sông Sài Gòn:
                                                   “Cá Trê, Giồng Tố, Nhà Bè
                                                Hai bên ruộng lúa ngó mê cả đồng”.

Thủ Thiêm có nhiều ruộng lúa và trước đây nông dân Thủ Thiêm gần như độc canh lúa. Ruộng chỉ làm một mùa vì mùa nắng nước sông Sài Gòn bị nhiễm mặn, không thể đưa vào ruộng để tưới lúa. Năng suất lúa đạt được khoảng 100 đến 120 giạ/ha.
Nông dân vùng Thủ Thiêm chỉ có làm ruộng, không trồng rẫy hay canh tác hoa màu phụ nào vì đồng ruộng thấp, nước ngập liên tục. Chung quanh nhà, dân Thủ Thiêm có thể trồng một vài cây ăn trái hoặc vài loại rau dùng trong gia đình. Mãi đến gần đây, người ta mới lập vườn cây ăn trái.

Trước đây, ở Thủ Thiêm, một phần lớn đất đai là của nhà thờ. Người nông dân tá điền phải đóng lúa tô 25 giạ lúa mỗi mẫu. Lúa đem nộp tô phải khô, sạch, nếu đổ vào nước mà có lúa lép nổi lên thì nông dân phải chở về hết. Sau ngày giải phóng, theo chỉ thị của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, đất đai được giao cho nông dân. Nông dân không còn phải đóng tô cho nhà thờ nữa.

Đến khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước, do tình trạng đô thị hóa dần ảnh hưởng nhiều đến vùng Thủ Thiêm và sau đó là việc qui hoạch hình thành khu đô thi mới, ruộng lúa dần được nông dân bán đi hay được qui hoạch cho mục đích sử dụng khác nên diện tích ruộng lúa giảm dần. Ngày nay ruộng lúa gần như không còn mà thay vào đó là một số vườn cây ăn trái, đầm trồng sen hay đất hoang...
  
Ngoài trồng lúa, người dân Thủ Thiêm còn có nhiều hoạt động khác để mưu sinh. Có những nghề phụ xuất phát từ cuộc sống nông nghiệp mà trước đây rất thịnh hành, nhưng hiện nay đã mai một do môi trường biến đổi, lợi nhuận vì thế cũng không còn.

Nấu rượu là một nghề truyền thống của nông thôn Nam Bộ, nghề này ở Thủ Thiêm không nhiều lắm, chỉ có một ít hộ làm nghề này. Rượu được nấu để phục vụ cho cộng đồng dân cư trong làng xã nhân các dịp cưới hỏi, giỗ chạp. Nguyên liệu để nấu rượu là gạo và nếp. Gạo dùng để nấu rượu là gạo lức. Gạo lức có lớp vỏ cám bên ngoài, khi nấu chín không kết dính nên dễ dàng trong khâu trộn men. Đồng thời chính lớp vỏ cám bên ngoài cũng là một trong những yếu tố làm cho chất lượng rượu được thơm ngon.

Công cụ sử dụng trong nghề nấu rượu rất đơn giản và có nhiều loại, thô sơ và không cần dùng đến bất cứ loại máy móc nào. Các công cụ gồm có:
+ Nồi: có hai loại, loại dùng để nấu cơm và loại dùng để nấu rượu. Loại dùng nấu cơm là một nồi lớn có thể nấu được khoảng 10 lít gạo, còn nồi nấu rượu là một loại lò đặc biệt, phải đặt thợ làm, gọi là tả. Tả được làm từ hai cái thau lớn, úp hai vành lại với nhau thành hình tròn. Sau đó người ta khoét 1 đáy thau để làm miệng.
+ Lu, khạp: dùng để ủ trước khi nấu ra rượu.

Gạo lức sau khi nấu chín thành cơm, để nguội và được trộn đều với men, sau đó sẽ cho vào khạp để ủ. Thời gian ủ trong khạp khoảng 3 ngày, trước khi kháp  12 giờ người ta phải chan nước vào cơm, có nghĩa là vào tối hôm trước đó để sáng hôm sau có thể kháp được. Tất cả cơm rượu được cho vào tả và đun lên. Hơi nóng trong tả bốc lên qua một ống dẫn bằng nhôm thông qua một thạp nước lạnh để nước ngưng tụ lại rồi chảy xuống chai thành rượu. Nghề này đơn giản nhưng cần phải có nhiều kinh nghiệm và phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Nếu trời lạnh quá và nóng quá thì cơm rượu sẽ không đủ độ lên men để cho rượu. Nếu không lên men, rượu sẽ bị chìm và khi đem kháp thì sẽ bị khét, nước rượu có màu vàng và không thể dùng được.
Rượu có nhiều loại khác nhau, những mẻ đầu cho nồng độ rất cao khoảng 70 độ và thấp dần ở những mẻ tiếp sau đó

Đánh bắt thủy sản
Gắn với sông nước là nghề đánh bắt cá, chài lưới. Cuộc sống của những người đánh bắt trôi nổi theo con nước. Lúc trước các dòng sông ở đây có rất nhiều loài cá, tôm, ốc,… dân chài kiếm sống không mấy khó khăn, chỉ cần những kỹ thuật đánh bắt thô sơ là cũng có một số lượng tôm, cá lớn dùng để ăn và đem ra chợ bán. Mùa nước lên thì họ làm ăn được, đánh bắt được nhiều cá, cuộc sống dễ chịu. Vào mùa khô thì nước cạn, cá tôm đi nơi khác, người dân ở đây xoay qua làm việc khác kiếm sống như đưa đò, lặn

Dọc theo bờ sông, cách bến đò Thủ Thiêm về hướng xóm Cây Bàng không bao xa, do bồi đắp cộng với hướng dòng chảy của thủy triều đã hình thành nên nhiều kênh rạch, trong số đó phải kể đến con rạch có nhiều cá trê đến sinh sống thành bầy đàn tạo nên “lãnh địa” riêng của mình. Từ đó hình thành nên địa danh rạch Cá Trê. Tranh thủ và tận dụng những đặc điểm của địa hình cùng với sự tính toán vào con nước (thủy triều lên, xuống), dân chài đã đóng đáy “phục kích” tại đây. Sau mỗi lần đóng đáy như vậy dân chài thu hoạch được rất nhiều cá trê, nhiều đến nỗi nhiều lúc không dám đến gần vì sợ chúng tấn công.

Mùa nắng, công việc đồng áng rảnh rỗi, người nông dân xuống các sông rạch trong vùng để bắt tôm cá bằng nhiều cách, nhiều phương tiện khác nhau từ mò bắt bằng tay, tát vũng, câu cá ... đến đắp đập trên những nhánh rạch nhỏ, mương cùng để ngăn nước lại cho tôm cá vào ở và sau đó tháo nước đi để bắt. Những người dân đi câu thường hướng dẫn nhau về cách thả câu sao cho câu được nhiều tôm cá.

- Lưới chủ cũng là nghề được dân chài ở đây phát triển rất mạnh, nghề này chủ yếu là đánh bắt cá cơm. Nhóm đánh bắt cá cơm được chia thành hai tốp, một tốp vài người đứng sát bờ sông, tay nắm lấy lưới, làm xuất phát điểm, tốp kia ngồi trên ghe thả lưới xuống sông theo hình cánh cung. Họ phải tính toán thế nào cho đến khi thả hết lưới thì cũng là lúc ghe ghé vào bờ. Cả hai tốp bắt đầu từ từ kéo và gom lưới vào bờ. Tới khi lưới gom lại, cá nhiều không thể kéo được nữa thì một số người lần theo lưới chủ tiến ra lấy vợt xúc cá cho đến khi nào không còn cá. Một chuyến đánh bắt cá cơm của nghề lưới chủ như vậy đã kết thúc, sẵn sàng cho một chuyến đánh bắt tiếp theo. Một trong những người có nhiều năm kinh nhiệm sống bằng nghề lưới chủ là ông Ba Thuận, có ba đời làm nghề này ngụ ở cầu Phao số 11 .

- Đặt lộp có dụng cụ bắt cá làm bằng tre. Tre được vuốt mỏng và đan lại với nhau, có hôm để cá chui vào mà không ra được. Ở Thủ Thiêm đặt lộp chủ yếu là bắt cá bống và cá sặc. Muốn bắt cá bống thì người đặt lộp phải đi theo con nước lớn ở những con rạch, men theo cạnh bập dừa nước hay ven bờ có cây cối um tùm, nước đến đâu thì chuyển lộp đến đó. Mồi dùng để đặt là ruột ốc, ba khía, cua đồng, trùn… Còn đặt lộp cá sặc thì chỉ đặt ở những đầm, ruộng, ao hồ.

- Mò cua, bắt ốc, đâm chuột thịnh hành khi trước đây Thủ Thiêm còn làm nông nghiệp. Cua có hai loại là cua đồng và cua biển. Cua đồng là loại cua thường ở trên đồng ruộng và làm hang ở bờ mẫu của những thửa ruộng. Hang cua đồng không sâu, người đi bắt chỉ cần thọc hơn nửa cánh tay vào là có thể bắt được cua. Cua biển là loại cua nước lợ, không ở trên đồng mà thường ở sông, làm hang ở bờ kênh, rạch, xẻo. Cua biển to và hung dữ hơn cua đồng nên việc bắt cua này khó khăn hơn. Vì thế người đi bắt cua phải có vũ khí “độc” mới bắt được cua, đó là cái cò móc. Cò móc một đầu được bẻ cong hình móc câu, đầu móc thường làm bằng thanh sắt nhỏ hoặc bằng Inox, được cột chặt vào một thanh gỗ cứng làm tay cầm. Người bắt cua dùng cò móc thọc vào hang cua và móc cua ra khỏi hang. Ngoài cách dùng tay và cù móc để bắt cua người ta còn dùng một cách khác tương đối nhẹ nhàng hơn đó là câu. Người ta thường câu ở bãi đất bồi, gần những gốc cây bần ngoài sông hay trong những con rạch, xẻo nhỏ mỗi khi nước lớn. Mồi câu cua thường là ruột ốc, ruột gà, vịt, hoặc trùn đất. Câu cua không cần dùng lưỡi câu. Cua bám vào mồi. Người câu phải giở cần câu lên từ từ, nhè nhẹ và dùng một cái vợt vớt hứng cua rơi xuống.
 
Chuột được đánh bắt ở đây là chuột đồng, thường xuất hiện vào mùa thu hoạch lúa. Đâm chuột là một việc làm khá đặc biệt ở Thủ Thiêm. Sinh hoạt này hiện không còn nữa vì chuột đồng đã biến mất theo các cánh đồng sinh ra chúng. Chuột thường ở trong những hang cua khi nước ruộng đã khô hoặc trong những bụi cây ven bờ. Muốn bắt được chuột phải có ít nhất ba người trở lên và phải dẫn theo chó để biết được hang chuột. Người đâm chuột phải mang theo chỉa. Chỉa được làm bằng thanh tre, trúc nhỏ, thẳng để canh mới chính xác. Đầu chỉa là một thanh kim loại nhỏ, được mài thật sắc. Thường thì ba người canh ở ba góc, nếu chuột chạy ra thì chỉa. Những tay chỉa chuột rất điệu nghệ, họ chỉa rất chính xác, chú chuột nào ló ra thì khó chạy thoát.

Nuôi vịt
Một số gia đình nông dân, khi lúa còn trên đồng, đã mua vịt con về nuôi. Vịt sẽ tìm thức ăn trên ruộng lúa và khi mùa thu hoạch bắt đầu, người ta lùa vịt đến những mảnh ruộng vừa gặt xong. Vịt sẽ tìm ăn những hạt thóc rơi trên ruộng cùng những con cá, ốc ... Người chăn nuôi lùa bầy vịt hàng mấy trăm con từ mảnh ruộng này sang mảnh ruộng khác cho chúng kiếm ăn. Khi mùa thu hoạch chấm dứt thì bầy vịt đã đủ lớn và có thể bán được. Có người tiếp tục nuôi để lấy trứng.

Nghề đưa đò
Nghề đưa đò là nghề vang bóng một thời của cư dân Thủ Thiêm. Trước đây họ tận dụng địa thế sông nước mà dùng đò đưa khách sang sông hoặc dọc sông để kiếm sống. Hiện nay, một số người tận dụng được nguồn du lịch của thành phố, đưa du khách đi tham quan bằng thuyền các con rạch, con xẻo còn hoang sơ của Thủ Thiêm.
Nghề đưa đò là một nghề rất đặc trưng của Thủ Thiêm, vốn nổi tiếng với câu ca:
“Ầu ơ … Bao giờ Chợ Quán hết vôi
Thủ Thiêm hết giặc em thôi đưa đò
Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm”.
Câu ca ấy đã trở thành nét văn hóa đặc trưng không chỉ là nghề chèo đò mà còn là nét văn hóa của vùng đất Thủ Thiêm đã in đậm trong trí nhớ từ bao đời nay.

Trước kia, ở Thủ Thiêm chỉ có hai bến đò là bến Cây Bàng và bến An Lợi Đông. Khoảng sau năm 1980, do phà Thủ Thiêm thường bị hư phải ngưng chạy, việc đi lại của dân Thủ Thiêm gặp nhiều khó khăn, người dân lập thêm bến đò cạnh bến phà để đưa khách sang sông, bến đò Caric hình thành từ đó.
- Bến Cây Bàng (ở xã Thủ Thiêm), phía bên Thủ Thiêm đậu tại cầu Ông Cậy (phía hạ lưu), phía Sài Gòn đậu ở cột cờ Thủ Ngữ.
- Bến An Lợi Đông (xã An Lợi Đông) phía Thủ Thiêm đậu tại đầu cầu 13, phía Nhà Bè đậu tại chợ Tân Thuận.
- Bến Caric (ở xã An Khánh) trước đây đậu gần bến phà Thủ Thiêm, sau này dời xuống đậu ở cầu Ông Cậy (phía thượng lưu) bờ Thủ Thiêm, phía bờ Sài Gòn đậu tại cột cờ Thủ Ngữ.

Nghề đưa đò ở đây có đò dọc đò ngang, đò ngang là đi qua Sài Gòn, đò dọc là đi lên phía Bình Quới, lên Thủ Dầu Một hay xuôi xuống quận 4, quận 7.

Bến đò Thủ Thiêm hoạt động gần như 24 giờ mỗi ngày. Từ 1-2 giờ khuya, đò đã bắt đầu đưa những người buôn bán sang quận 1 để đến các chợ đầu mối mua hàng và quay trở về cho kịp buổi chợ sáng. Tờ mờ sáng là bắt đầu người người sang sông để đi làm, học sinh đi học... đến trưa hay chiều hết giờ làm lại quay về. Trong suốt ngày, có những người sang sông vì việc này hay việc nọ, thăm viếng, đi cúng bái ở các chùa miễu, khách đi dạo trên sông, đưa khách đi dọc bờ sông và nhiều người khác nhờ đò đưa đến các con tàu đang neo đậu trên sông... Buổi tối, đò chuyên chở những người đi làm về muộn, người đi sang thành phố chơi... Khi vắng khách, các con đò thường đậu ở bến Cây Bàng, phía Thủ Thiêm. Tuy nhiên khi cần, khách đến bến đò phía quận 1 có thể gọi đò sang rước.

Trước năm 1975, những người đưa đò ở bến Cây Bàng qui tụ thành 2 tổ: tổ 1 và tổ 2 với 127 chiếc đò. Ở bến An Lợi Đông có khoảng 60 chiếc đò. Người đưa đò phần nhiều là dân từ miền Tây (Thới Lai, Cờ Đỏ, Ô Môn, kinh Bảy Ngàn, kinh Mười Ngàn...) lánh nạn chiến tranh lên Thủ Thiêm ở. Họ làm nghề đưa đò đến khoảng đầu thập niên 80 mới về quê. Lúc bấy giờ tàu nước ngoài nhiều. Mấy cô đưa đò thường đưa thuyền viên cặp mạn. Họ cũng chở hàng của thủy thủ lên bờ và kiếm được khá tiền. Đưa đò ngang sông giá 1đồng/người. Mỗi chuyến đò có thể chở đến 10-12 người, nhưng khi được 7-8 người thì có thể tách bến. Nếu khách bao đò sang sông (đi ngay) thì trả 5 đồng. Đò chở cả xe đạp, xe Honda. Người đưa đò có thể nuôi gia đình sống được.

Năm 1978, Hợp tác xã đò ngang Thủ Đức được thành lập gồm người đưa đò ở bến Cây Bàng. Đến năm 1981, Hợp tác xã đò ngang quận 2 được thành lập bao gồm người đưa đò ở cả 3 bến Cây Bàng, An Lợi Đông và Caric.

Đò đưa khách ở Thủ Thiêm ngày xưa là đò chèo tay. Thường đò có hai chèo, một mái chèo ở lái và một chèo ở mũi, người chèo phía sau dùng chân để điều khiển cần tay lái, có một sạp cho vài người ngồi còn bao nhiêu đều phải đứng. Khoảng năm 1970, đò dần dần được gắn máy đuôi tôm. Các chủ đò thường dùng máy Kohler 4 mã lực. Sau đó, người ta dần dần thay thế máy đuôi tôm bằng máy đặt ở giữa thuyền và dùng loại máy có công suất lớn hơn, khoảng 7 mã lực.

Trước năm 1975, đò Thủ Thiêm không có mui. Sau Giải phóng, khi Hợp tác xã đò ngang Thủ Đức được thành lập, Hợp tác xã cho làm mui để khách khỏi bị nắng mưa.

Lúc đầu đò Thủ Thiêm có thể chuyên chở khách sang sông cũng như chở khách muốn đến các tàu lớn đang đậu trên sông Sài Gòn. Tuy nhiên khoảng những năm 1980, việc chuyển lậu hàng hóa từ các tàu biển lên bờ tăng nhiều, cơ quan quản lý ở cảng Sài Gòn không kiểm soát nổi nên cảng Sài Gòn đề nghị tách số đò Thủ Thiêm ra hai nhóm:
- Đò ngang: chỉ chở khách sang sông. Đò loại này được sơn mui màu xanh và do Phòng Giao thông Công chánh quận quản lý cấp phép hoạt động.
- Đò cặp mạn tàu chỉ chở khách đến các tàu biển. Đò loại này có mui sơn màu trắng và do cảng Sài Gòn cấp phép.

Ngoài ra còn có :
- Những ghe chở hàng hóa linh tinh cặp mạn tàu để bán cho thủy thủ hay những người đang làm việc trên tàu như công nhân bốc xếp hàng hóa, công nhân gõ rỉ. Thường họ bán nước uống, cơm, mì, hủ tiếu và chút ít rau quả, thịt cá…
- Ghe chuyên chở công nhân từ bờ ra tàu làm việc. Những ghe này do Cảng cấp phép và quản lý.

Mỗi chiếc đò được phép chở 12 người. Sau đó, việc quản lý chuyên chở trên sông gắt gao hơn, số người được phép chở giảm xuống còn 8 người rồi còn 5 người. Đến tháng 9 năm 2004, bến đò Cây Bàng có 87 chiếc đò ngang.

Nghề ghe vàm (buôn bán trên sông), cũng diễn ra rất nhộn nhịp. Những người làm nghề ghe vàm là những tiểu thương, chủ yếu là người Hoa từ phía quận 7 về đây chèo đò, cặp mạn tàu thuyền, trao đổi chủ yếu của ghe vàm là thức ăn, hoa quả.

Năm 2004, thành phố không cho phép đưa đò sang sông Sài Gòn ở hai bến Cây Bàng và Caric nữa, chỉ bến An Lợi Đông là còn phép hoạt động, đưa người và chuyên chở hàng hóa qua quận 7 hoặc cặp vào các tàu đậu ở sông. Đến tháng 5-2005, việc đưa đò ngang và đò dọc chấm dứt, cũng chấm dứt luôn việc cấp giấy đăng kiểm cho phương tiện chuyên chở từ hai bến Caric và Cây Bàng. Đối với những người đưa đò không còn việc làm nữa, Nhà nước hỗ trợ cho mỗi người 9 triệu đồng để tìm việc làm mới hoặc học nghề mới và 3 triệu đồng cho chiếc đò. Người làm nghề đưa đò một số bán đò, một số còn đò nhưng không chở khách được vì không đăng kiểm được.

Nghề đóng, sửa chữa ghe
Tại Thủ Thiêm có một số trại đóng ghe. Không ai biết được nghề này ra đời ở đây từ lúc nào, có lẽ từ khi ở đây có bến đò.

Những chủ trại đóng ghe lúc trước có ông Hai Tô, ông Sáu Nén, ông Tư Xích, ông Hai Mạnh, ông Hai Phát (Thái Văn Phát), ông Ba Thi (ở chỗ miễu An Lợi Vạn, ấp Cây Bàng). Họ làm nghề đóng ghe từ trước ngày Giải phóng, đến gần đây thì tạm ngưng do nhu cầu đóng mới không còn. Trong số những chủ trại này, chỉ có ông Hai Tô còn sống, những người kia thì đã qua đời. Các ông này là người sống ở Thủ Thiêm, các thợ phụ đóng ghe cũng là người Thủ Thiêm.

Gỗ dùng đóng sửa ghe là gỗ sao, thường được mua ở các trại cưa ở cầu Rạch Ông rồi vận chuyển về Thủ Thiêm để đóng thành chiếc ghe theo nhu cầu. Vùng Rạch Ông là một làng nghề đóng ghe thuyền có tiếng từ xưa, nhưng người Thủ Thiêm không thuê đóng ghe tại đây vì thợ ở Rạch Ông quen sản xuất loại ghe Cần Đước có hình dạng không giống loại ghe Thủ Thiêm.

Ghe Thủ Thiêm hình dáng nhỏ gọn, mũi và lái đều bằng không nhọn. Mũi sơn đỏ, lái sơn xanh, chỉ dùng để đưa khách và một số lượng hàng rất hạn chế. Ghe có nhiều cỡ, từ dài 7m, ngang 1,5m cho đến loại ghe đò dài 9m, ngang 1,8m. Đò ở bến Cây Bàng nằm trong các kích thước đó. Ghe nhỏ nhất là loại 4 đôi (tính theo số ván làm be ghe), lớn hơn là loại 4 đôi một độn (4 đôi và một nửa miếng – hay là nửa lá), loại 5 đôi. Một lá là một tấm gỗ có chiều rộng khoảng 20cm, dày 2cm, dùng để làm ván be.

Ván dùng để đóng đáy thuyền gọi là tiếp. Khi đóng mới một chiếc ghe nào thì trước hết phải ráp hai tấm tiếp cho khớp nhau. Sau đó người thợ đâm lô. Lô là miếng ván mũi và lái của chiếc thuyền, được gọi là lô mũi và lô lái. Động tác ghép lô cho chắc chắn ở hai đầu mũi và lái của thuyền được gọi là đâm lô.

Sau khi đâm lô, người thợ mới ráp ván be. Các miếng ván be ghe thường có dạng hình thoi, rộng ở giữa và nhỏ ở hai đầu. Ván be phải có kích thước chuẩn mực, trước khi ráp đã được cắt theo ni thật chính xác. Cách đo, cắt theo ni của họ cũng rất đặc biệt. Họ dùng một dây sắt, uốn dây sắt một cách sít sao theo hình dáng của miếng ván be đầu tiên. Sau đó, họ lấy dây sắt có hình dáng miếng ván be ấy đặt lên trên miếng ván khác và vẽ theo hình dây sắt để cắt theo đó mà hình thành nên miếng ván be mới.

Ván be được ráp hai bên từ dưới lên trên cho đều để hình thành nên vỏ ghe. Sau đó, người thợ cắt cây cong (là các thanh gỗ có bề dày 7-8cm, được ghép phía trong vỏ ghe để giữ cho vỏ vững chắc) làm sườn cho vỏ ghe. Kích thước của cây cong không được làm sẵn mà phải dựa vào hình dạng của vỏ ghe để lấy ni rồi mới được ráp vào. Để bịt kín những khe hở, người thợ phải xảm ghe. Vật liệu để xảm ghe là bao bố, dây thừng trộn với dầu chai. Chỗ nào có đóng đinh thì lấy dầu chai trét đầu đinh lại để bảo vệ đinh khỏi bị rỉ sét.

Ngoài loại ghe đưa khách, người Thủ Thiêm còn đóng xuồng thông (loại ghe dùng trong gia đình để đi lại trên kênh rạch), tam bản (chỉ có 1 chèo lái bên tay trái). Xuồng tam bản có điểm đặc biệt là miếng ván lô rộng 3 - 4 tấc, mỗi bên ghép lên bằng ván 2 tấc, mũi và lái bằng không giống mũi lái nhọn ở miệt Long An. Trước đây, gia đình nông dân nào cũng phải có một chiếc xuồng để chở lúa, chở mạ, chở đồ...

Trong quá trình đóng ghe, sau khi ghim lô xong thì chủ ghe sửa soạn mâm cúng. Lễ vật cúng là bộ tam sên gồm thịt luộc, tôm/cua, hột vịt và một bình bông.

Những gia đình có ghe (đò hay xuồng) đều có tục lệ cúng ghe vào ngày mùng 3 Tết. Họ bày lễ vật cúng tại hai nơi, cả ở trên nhà lẫn ở dưới ghe. Sau khi cúng trên nhà, chủ ghe cúng dưới ghe, lễ vật là con vịt, lấy vàng bạc dán lên ghe để tỏ lòng trân trọng.
Bây giờ các trại này chỉ còn sửa chữa vá ghe, không còn đóng mới nữa vì việc đưa đò sang sông bây giờ chỉ còn ở bến An Lợi Đông. Thêm nữa là những người làm nghề đóng ghe đã già hoặc mất đi, con cháu họ không tiếp tục nghề nữa nên ở đây nghề đóng ghe đã mai một. Điều kiện bến bãi để đóng ghe cũng không còn. Trước đây có bãi để đóng ghe rộng từ chân bờ kè đá (làm từ năm 1937) ra mí nước. Sau này bờ sông bị lở. Một số nơi kè đá bị lở, người dân lấy đá về lót đường. Khoảng năm 1999 - 2000, con đường dọc mé sông được nâng cấp, lấn vào các kè đá làm cho khoảng cách từ kè đến mí nước trở nên rất hẹp, các trại ghe không còn chỗ hoạt động nữa.

Một người nổi tiếng trong nghề sửa chữa, vá ghe là bác Huỳnh Văn Khỏe được giới thương hồ dọc sông Sài Gòn quen miệng gọi bác Tám Khỏe. Bác theo nghề vá ghe từ cha để lại đã ngót 40 năm nay. Cha của bác là thợ vá ghe được đánh giá là giỏi nhất cả khúc sông Sài Gòn từ những năm 50. Lúc ấy cả vùng này chỉ có bốn điểm vá ghe, mà gia đình của bác chiếm hết ba điểm. Anh em bác được cha tận tình chỉ vẽ, truyền nghề lại. Và họ không phụ lòng người cha, cũng trở thành những người thợ vá ghe lành nghề và lương thiện . Một gia đình khác cũng theo nghề vá ghe từ hơn 50 năm nay, là gia đình anh Huỳnh Văn Thành. Cả ba đời nhà anh bám lấy ven sông Sài Gòn, sống bằng nghề vá ghe.

Những người thợ vá ghe cho rằng ghe xuồng dưới sông cũng chẳng khác chi xe cộ chạy trên đường, cũng hư hao bất chợt, cũng cần sửa chữa thường xuyên. Điểm vá ghe cũng tương tự như mấy điểm bơm hơi vá ép trên đường. Ghe bị lủng, bị mục được người ta đưa đến để vá. Vá xong, nếu thả xuống nước mà nổi ngon lành, nước không vô, xài được bền, vậy là có uy tín. Thợ vá ghe Huỳnh Văn Thành tâm sự: “Vá ghe đâu có khó, mọi cái có quy chuẩn rồi, lấy miếng ván cũ ra gọt miếng khác y chang như vậy thế vào, sau đó chốt đinh, trét chai cho kín là xong” .

Tuy thế, nghề vá ghe cũng phải học tập nhiều mới thành, mới có được uy tín để có được bạn hàng. Cái khó của nghề vá ghe là phần đưa ghe lên bệ. Nếu là ghe nhỏ, thì chỉ cần sức trai tráng của một vài cậu thanh niên cùng nhau nhịp nhàng nâng lên theo tiếng hô của người hướng dẫn là ghe vào bệ. Nhưng nếu là ghe lớn thì đợi thủy triều dâng lên, nhờ sức nước mà đưa ghe lên đậu sát mé, rồi dùng con đội kích lên, kê cao thân ghe rời khỏi mặt nước. Các công đoạn này đều làm bằng tay, không cần cẩu, máy móc nên mất thời gian nhiều. Một cái khó khác nữa của nghề vá ghe là nằm ở khâu mộc. Ghe xuồng mục, gỗ bị hư hại phần nào thì sẽ được thay phần đó bằng cách lắp một miếng khác cho vừa rồi vá lại. Những chỗ hở sẽ được nhét bằng dây thừng dập thiệt khít sau đó trét chai lên cho nước khỏi ngấm vào. Mỗi chiếc ghe thường được sửa theo định kỳ 1 hoặc 2 năm một lần.

Khu vực gần Ủy ban Nhân dân xã An Lợi Đông hiện còn một số hộ sửa ghe. Công việc chủ yếu ở các cơ sở này là thay cong, thay lô, thay ván, trét chai, sơn lại ghe. Để cắt miếng ván be cho đúng kích cỡ, hình dạng, thợ sửa ghe dùng cây sắt để lấy ni miếng ván bị thay. Họ bẻ thanh sắt cho vừa khít miếng ván bị thay, xong đặt thanh sắt lên miếng ván mới, lấy mực vẽ rồi cắt. Xong đặt vào be ghe uốn cho vừa khít vào cây cong. Phải dùng “cảo” để cho miếng ván nằm đúng vào vị trí. Miếng ván làm tiếp lườn dầy hơn, khoảng 2 phân rưởi, 3 phân nên người thợ phải đốt lửa để “uốn” cho đúng vị trí.

Sửa xong ghe, trước hạ thủy thì chủ ghe cúng. Thường lễ vật là trái cây. Cũng có khi chủ ghe cúng vịt quay và trái cây.

Để trở thành thợ sửa chữa vá ghe lành nghề, tất cả đều qua kinh nghiệm, ban đầu thì làm việc lặt vặt như trét chai, xẻ ván, đóng đinh… dần dần khá hơn thì làm mộc, cắt ráp khung xương trong ghe. Chẳng cần qua trường lớp gì cả, chỉ cần sáng dạ và khéo léo là thành nghề.

Nghề gõ rỉ sơn tàu
Đây là một nghề khá đặc trưng của vùng Thủ Thiêm do nằm sát bên cảng Sài Gòn, nơi thường xuyên tiếp nhận các tàu biển từ nhiều nước đến. Các tàu này thường phải đậu lại cảng một số ngày để chuyển hàng hóa lên bờ hay nhận hàng hóa từ cảng để chở đi các nước. Vì là tàu biển, thường xuyên tiếp xúc với nước mặn nên dễ bị rỉ sét, hư hại. Một số tàu tranh thủ thời gian đậu lại để làm việc bảo trì, sơn phết lại. Có thể cũng do họ muốn tranh thủ giá nhân công thấp ở Việt Nam để thực hiện công việc cần nhiều lao động này nên đã thực hiện việc bảo trì này ở cảng Sài Gòn.

Để sơn lại tàu, người thợ cần phải dùng búa gõ vào các thanh sắt, vách sắt hay thành sắt của tàu cho lớp sơn cũ và rỉ sét bong hết ra, sau đó mới dùng sơn mới sơn lại. Người thợ phải làm việc trong môi trường độc hại. Trước hết là sự ô nhiễm về tiếng động. Luôn luôn họ phải chịu đựng tiếng ồn rất lớn do tiếng búa đập liên tục vào kim loại. Ngoài ra còn có sự ô nhiễm do bụi bặm, rỉ sét và hóa chất từ sơn. Ngoài ra còn tình trạng môi trường nóng bức trong hầm tàu... Một số người phải đảm nhận công việc nguy hiểm khi làm việc trên các tháp cần cẩu... Số lao động nghèo ở Thủ Thiêm là lực lượng sẵn sàng chấp nhận công việc khó nhọc, độc hại và nguy hiểm này để mưu sinh.

Nghề gõ rỉ sơn tàu có lẽ cũng ra đời ở Thủ Thiêm từ lâu. Thời gian phát triển nhất của nghề này là những năm sau Giải phóng, khi có nhiều tàu Liên Xô và một số nước Xã hội Chủ nghĩa. Lúc bấy giờ, số người làm nghề gõ rỉ sơn tàu ở Thủ Thiêm cũng rất đông. Họ tập họp lại thành những tổ. Người tổ trưởng là người năng động, có nhiều quan hệ với các viên chức ở cảng Sài Gòn để biết tàu nào có nhu cầu sơn phết lại. Thời gian để làm việc này tùy thuộc vào thời gian tàu đậu ở cảng. Sau đó tổ trưởng huy động lực lượng của tổ để làm. Tổ trưởng cũng phải lo những thủ tục cần thiết để đưa công nhân lên tàu làm việc. Thường thì người thợ gõ rỉ sơn tàu có thể nhận được tiền công khoảng gấp đôi so với lao động phổ thông ở địa phương. Chính vì thế, nghề gõ rỉ sơn tàu thu hút được nhiều lao động ở Thủ Thiêm. Ngoài ra họ còn có thể có thêm một vài khoản thu nhập phụ khác. Hiện nay việc gõ rỉ sơn tàu không còn nhiều. Có lẽ vì các tàu chọn nơi khác để sơn lại do có giá nhân công rẻ hơn.

Trong thời gian thịnh đạt của nghề này, buổi chiều khi các công nhân hết làm việc, họ thường tụ tập tại các quán ngay trên bờ sông để ăn uống, nhậu nhẹt. Điều này cũng khiến các hàng quán ở đây cũng đông đảo và làm ăn khấm khá hơn.

Nghề lặn là một nghề độc đáo ở Thủ Thiêm nói chung và phường An Khánh nói riêng. Nghề lặn ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XX trong một làng nhỏ nay thuộc khu phố 3, phường An Khánh. Theo những bậc cao niên trong làng thì nghề này ra đời từ nhu cầu dò tìm phế liệu, đạn dược, dao kiếm bị chìm dưới sông. Ban đầu chỉ có vài ba người làm nghề này.

Thời kháng chiến chống Mỹ, nhiều tàu chiến của Mỹ bị chìm dưới sông Sài Gòn, do đó nhiều người trong làng xuống sông để mò đạn dược, súng ống của những tàu chiến bị đánh chìm. Nghề lặn vì thế mà cũng phát triển hơn trước. Tuy nhiên, phải sau thời kỳ chiến tranh, lặn mới trở thành nghề kiếm sống thực sự của dân làng. Từ khoảng chục người trong thời chiến tranh, số lượng người làm nghề lặn tăng lên vài chục rồi hàng trăm. Đây là thời kỳ cực thịnh của làng lặn An Khánh với khoảng hơn 200 thợ lặn. Nhà ai có người đi lặn là cuộc sống gia đình đó khấm khá hẳn lên. Cũng chính từ đây đã xuất hiện nhiều người lặn có tiếng như Mười Xicule, Út Tèo, anh Phú… Nghe tiếng làng có nhiều người lặn giỏi, các Công ty trục vớt khắp nơi đổ về làng tìm thợ.

Trước đây làng “lặn” cũng như bao làng khác ở Thủ Thiêm đều sống chủ yếu bằng nghề nông. Tuy nhiên, việc làm nông ngày càng khó khăn do đất đai bị thu hẹp, nước bị ô nhiễm... Thấy làm nông không có thu nhập, nhiều người kéo nhau đi lặn, đời cha truyền đời con, dần dần làng này thành làng “lặn”, và người dân cũng trở thành thợ lặn.
Hành trang cho mỗi chuyến đi làm ăn của dân làng chỉ độc một chiếc ghe, trên đó gồm một máy phát điện, một bình hơi cải tiến từ chiếc bình gas loại 8kg, một đoạn ống hơi bằng nhựa dài hơn 50 th¬ước và ít đồ ăn. Trước đây, chỉ cần ra khúc sông Sài Gòn giáp với quận 1 là có thể “hành nghề” được, nhưng khi “kho báu” dưới lòng sông gần cạn kiệt thì thợ lặn phải đi xa hơn, nhiều ngày hơn, không lên tận thư¬ợng nguồn sông Sài Gòn thì lại ng¬ược về phía biển, cực nhọc vì thế mà cũng nhiều hơn.

Những khó khăn trên cùng với sự nguy hiểm của nghề đã khiến cho nhiều thợ lặn chuyển qua làm nghề khác, một số đi làm cho các Công ty trục vớt, chỉ còn một số ít bám trụ với nghề. Những thợ lặn có tiếng cũng không truyền nghề lại cho lớp trẻ nữa. Anh Út Tèo là một thợ lặn nổi tiếng nhưng đã bỏ nghề và cũng không truyền nghề lại cho con cháu. Theo anh, làm nghề này quá nguy hiểm cho tính mạng người thợ.

Sắp tới, làng “lặn” cũng như vùng đất Thủ Thiêm sẽ bị giải tỏa, người dân trong làng sẽ bị di dời; hơn thế nữa, sẽ có một đường hầm Thủ Thiêm hiện đại bậc nhất nước ta nối liền quận 2 và quận 1, đường hầm Thủ Thiêm sẽ chạy ngang con sông, nơi người dân làng lặn đã kiếm sống bao năm nay thì liệu nghề lặn ở An Khánh có còn được phát huy trong tương lai hay không. Mong rằng dù đi đâu hay điều kiện có khó khăn đi nữa thì người dân làng “lặn” vẫn có người duy trì nghề khá độc đáo này.

Những người thực hiện:
PGS.TS. Tôn Nữ Quỳnh Trân
NCVCC Nguyễn Quang Vinh
ThS. Lê Văn Năm
Nhà văn Sơn Nam
ThS. Trần Quang Ánh
ThS. Trương Hoàng Trương
Nguyễn Quang Giải
Nguyễn Tấn Tự
Trương Thanh Thảo

Các tin bài khác: >>